TẦM NHÌN "ĐỊA-VĂN-CHÍNH-CÔNG-KINH"
QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG

I FORESEE TO WIN
NOTHING IS PERMANENT EXCEPT CHANGE

CASE STUDY N0.383: NÃO TRẠNG “AN CƯ LẠC NGHIỆP “ vs ĐẦU TƯ BẤT ĐỘNG SẢN

Đây là một bài lảm nhảm. Trong bài viết này, tôi xin được viết về thứ tư duy (mà chính xác phải gọi là “Não trạng/mindset ) An Cư Lạc Nghiệp của người Việt Nam và những ngộ nhận về đầu tư Bất Động Sản (BĐS).

1-Khi nghĩ đến đầu tư hoặc đầu cơ, đại đa số người Việt Nam sẽ nghĩ đến kênh đầu tư BĐS đầu tiên. Sau đây là những quan niệm phổ biến và có thể nói là những ngộ nhận về đầu tư BĐS.

  • Họ nghĩ và cho rằng BĐS sẽ không bao giờ xuống giá trong dài hạn,tức sẽ không bao giờ lỗ.

  • Họ chỉ cần bỏ một % (phần trăm) tiền cọc và vay thế chấp ngân hàng phần còn lại. Thường thì 20-30%. Nghĩa là họ chỉ cần bỏ ra 2-3 đồng để đầu tư vào một thương vụ 10 đồng.

  • Từ trước đến giờ, BĐS là kênh đầu tư duy nhất người Việt Nam có được. Vì thị trường đầu tư tài chính (chứng khoán, quỹ mở, quỹ đóng, trái phiếu) chỉ mới gia nhập vào Việt Nam và không phải ai cũng làm được !

  • Họ có thể dùng tiền nhận được từ việc thuê BĐS để trả góp tiền vay hàng tháng (nếu vay thế chấp).

2- Quan niệm “An Cư Lạc Nghiệp” của người Việt:

-Người Việt Nam có quan niệm An Cư lạc Nghiệp. Ở đời trước tiên phải lo an cư, nghĩa là phải có một nơi để ở trước, và quan trọng hơn là mình phải là chủ nơi ở đó. Sau đó mới lo lạc nghiệp, nghĩa là xây dựng cuộc sống, làm việc, lập gia đình.

-Nhưng vì sao người Việt Nam lại có tư duy này còn người Phương Tây thì không phải không có, mà họ không coi trọng điều này cho lắm?

Có 8 nguyên nhân:

1. Việt Nam từ trước đến nay là một nước nông nghiệp nên người Việt Nam sinh sống với tư duy nông nghiệp. 1 người làm nông nghiệp sẽ sống trong cái làng cả đời, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, ít đi ra ngoài vùng. Nên đời sống họ chỉ là cái nhà và mấy sào ruộng.

2. Cái nhà trong văn hóa người Việt không chỉ là một nơi để ở, mà là một biểu tượng cho cuộc sống của họ và quan trọng hơn :Nhà là nơi thờ cúng !

3. Người Việt Nam có tư duy làng xã. Khi đã sinh ra ở một nơi nào đó, người Việt Nam sẽ sinh sống ở đó cho đến chết. Điều này chỉ bắt đầu thay đổi khi Việt Nam mở cửa và hội nhập vào thị trường quốc tế. Người Việt Nam từ đó cũng thay đổi theo sự công nghiệp hóa của đất nước. Thay vì ở một nơi cố định, họ bắt buộc phải đi làm việc ở địa phương khác.

4. Thời bao cấp chính quyền đã áp dụng chính sách Hộ Khẩu, bắt buộc mọi người phải khai nhân trú và nếu muốn di chuyển sang địa phương khác phải có giấy phép thông hành. Sự di chuyển của người Việt Nam đã bị kìm nén và kiểm soát toàn diện. Vì vậy nên người Việt Nam không có tư duy di chuyển theo công việc. Thế hệ trẻ sinh sau thời bao cấp không hề biết gì về điều này nhưng đây là một trong những ký ức khó quên của thế hệ trước.

5. Thời bao cấp ai muốn có tem phiếu lương thực phải có Hộ Khẩu, muốn có Hộ Khẩu phải có nhà, không có nhà và Hộ Khẩu thì bị coi như một người vô quốc tịch.

6. Chính sách Hộ Khẩu. Cho dù đã qua thời bao cấp nhưng chính quyền vẫn giữ chính sách Hộ Khẩu. Đây là một thứ ám ảnh tất cả những ai đi làm và sinh sống ở địa phương khác. Hộ Khẩu là một thứ cần thiết cho mọi thủ tục hành chính, nên ai cũng thèm khát để sở hữu một căn nhà ở nơi mình làm việc để có Hộ Khẩu và khỏi phải đối mặt với những thủ tục rườm rà này.

7. Giá nhà ở Việt Nam mắc gấp 20-30 lần thu nhập bình quân một năm của người Việt Nam. Ở các nước Phương Tây thì chỉ 4-10 lần. Nên việc đi làm để mua trả góp một căn nhà là điều ngoài sức tưởng tượng của đại đa số người Việt Nam. Những người sở hữu nhà ở các thành phố lớn luôn sống trên cơ và có nhiều lợi thế hơn những người nhập cư.

8. Người Việt Nam không có văn hóa cho thuê nhà chuyên nghiệp như ở Phương Tây. Thậm chí, một trong những loại người người Việt Nam ghét nhất là chủ nhà trọ. Tiền điện nước thì tính gấp 2-3 lần, tăng giá thuê thì bất thình lình, làm việc thì vô cùng kém chuyên nghiệp (dân thường hay dùng từ “mắc dại”). Vì vậy ở trọ là một điều người Việt Nam ghét nhất. Bản thân tôi cũng đã trải qua cảm giác này khi sinh sống ở Sài Gòn. Nên tôi biết rất rõ cái cảm giác phải đi ở trọ khổ thế nào.

3-Còn người Phương Tây theo nhận xét và phân tích của tôi thì xem nhẹ việc này hơn, vì:

  • Họ sống trong nền kinh tế công nghiệp và chất xám. Họ thường di chuyển và thay đổi chỗ làm nên không có tư duy phải gắn bó với một địa phương nào. Họ đi đến đâu nơi công việc yêu cầu.

  • Người Phương Tây có văn hóa thuê nhà. Đa số hoạt động rất chuyên nghiệp, qua môi giới, có văn bản luật lệ và quyền lợi. Vì vậy nên họ cho thuê và ở lâu dài.

  • Người Phương Tây có tư duy cá nhân (còn người Việt Nam có tư duy gia đình), khi đã trưởng thành họ sẽ sống tự lập, ít về thăm nhà, người Việt thì ngược lại.

Chuyện của người bạn của tôi

Một người bạn của tôi đã đầu cơ cùng với vợ anh ấy vào một căn nhà cho thuê ở Sydney. Tôi không ở Sydney, cũng chưa bao giờ tận mắt đến xem căn nhà này. Trong thương vụ này, tôi không góp phần nào, mà chỉ làm tư vấn và phân tích. Tôi hoàn toàn không nhận được gì trừ kinh nghiệm. Tôi sẽ không đi quá sâu vào các chi tiết. Trong bài viết này tôi chỉ muốn chia sẻ kinh nghiệm, cũng như những ngộ nhận và rủi ro về đầu cơ BĐS. BĐS không như mọi người thường nghĩ là một kênh đầu tư siêu an toàn, mà nó là một con dao 2 lưỡi, nhất là khi bạn đầu tiên bằng tiền vay thế chấp. Sau đây là chi tiết của thương vụ đó.

  • Căn nhà mua giá: $600,000 AUD cách trung tâm Sydney 30km về phía Tây-Nam, gần thị trấn Campbelltown.

  • Đặc cọc 20%: $600,000 x 0.2 = $120,000

  • Tiền phí mua nhà: $20,000

  • Tiền luật sư, kế toán: $2,000

  • Chi phí làm thủ tục vay: $1,000

  • Thời hạn vay: 30 năm (1,560 tuần)

  • Trả góp hàng tuần: $650

  • Tiền thuê nhà: $550

  • Tiền túi bỏ ra để bù vào: $650-550 = $100. Chưa tính chi phí sửa chửa và phí quản lý của ngân hàng.

  • Sau 5 năm sẽ bán với dự tính là giá nhà sẽ tăng 3-5% mỗi năm.

  • Sau 5 năm, giá nhà sẽ là $765,768. Tính gọn lại là $766,000 (tối thiểu);

  • Tổng chi phí trả trong 5 năm (tiền bù lỗ và chi phí quản lý): ($100 + 50) x 52 tuần x 5 năm = $39,000.

  • Dự tính phần lời trước phí môi giới: $766,000 – $600,000 – $39,000 = $127,000.

  • Lời chỉ 127,000/600,000 = 0.21167 = 21%.

  • Nhưng vì chỉ bỏ ra $120,000 mà lời $127,000. Nên lời là 1.058 = 106% nhờ đòn bẩy tài chính (20% hoặc 1 chọi 5).

  • Nếu bỏ tiết kiệm ngân hàng thì sau 5 năm họ chỉ lời 15%.

  • Còn nếu đầu tư cổ phiếu không đòn bẩy thì họ chỉ lời tầm 20-30%.

  • Nhưng BĐS là còn dao 2 lưỡi.

Mặc dù tôi đã khuyên anh ta không nên đầu cơ vào BĐS lúc này vì theo phân tích của tôi Sydney đang có một bong bóng BĐS. Nhưng anh ta đã quyết định. Tôi chúc anh ấy thành công. Riêng tôi thì không thích đụng tới BĐS. BĐS là một trò chơi với con dao 2 lưỡi. Tôi chỉ đầu tư vào quỹ Exchange Traded Fund (ETF) và dùng đòn bẫy tài chính nếu cần. Đó chỉ là ý kiến riêng của tôi, tôi xin nói thêm trong bài viết khác. Tôi không thích BĐS, vì:

  • Khi mua một căn nhà, bạn khóa vốn (tiền) của bạn vào một nơi. Muốn rút phải mất thời gian và chi phí cao (3-6% phí môi giới và các chi phí hàh chính khác).

  • Giá nhà theo phân tích của tôi chỉ tăng bình quân theo lạm phát, nếu các bạn không tin thì có thể tự tìm hiểu.

  • BĐS tăng trưởng thấp hơn cổ phiếu 5-10%.

  • BĐS không linh động.

  • Quan niệm giá nhà sẽ không xuống là quan niệm hết sức sai lầm. BĐS là trò 2 lưỡi. Đợt bong bóng BĐS vỡ vừa rồi đã chứng minh điều này. Cá nhân tôi biết vài người đã mắc nợ mà không thể nào thoát được. Như tôi đã nói, BĐS là trò 2 lưỡi.

     

Đó là kinh nghiệm của tôi. Đây chỉ là một bài lảm nhảm.

CASE STUDY N0.382: TTCK vs NỖI ĐAU MONEY BỐC HƠI

1-Kể từ cuối tháng 3/2015 cho tới nay, cổ phiếu MWG của ông chủ Nguyễn Đức Tài đã giảm khoảng 35%, từ mức 114.000 đồng/cp xuống còn 74.000 đồng/cp, về gần với mức giá tham chiếu mà cổ phiếu này chào sàn hồi giữa tháng 7 năm ngoái, 68.000 đồng/cp.Với gần 140 triệu cổ phiếu, vốn hóa thị trường của CTCP Đầu tư Thế giới Di Động trong khoảng 2,5 tháng qua đã bốc hơi khoảng 5.600 tỷ đồng.

2- Đại gia từng vượt qua các tên tuổi lừng lẫy như Trương Gia Bình, Hồ Hùng Anh, Trần Kim Thành, Đặng Thành Tâm… dù không muốn hiện diện trong tốp những người giàu nhất trên TTCK nhưng chắc chắn không vui vẻ khi giá cổ phiếu giảm mạnh như vậy.

3- ông Trần Đình Long, hiện nắm giữ hơn 174 triệu cổ phiếu HPG, tương đương hơn 23% cổ phần của Tập đoàn Hòa Phát. Với việc cổ phiếu này giảm khoảng 10.000 đồng/cp trong vòng 3 tháng qua, túi tiền của ông Long bốc hơi hơn 1.700 tỷ đồng. Vợ ông Long, bà Vũ Thị Hiền, đang nắm giữ hơn 53 triệu cổ phiếu, cũng mất khoảng 530 tỷ đồng. Như vậy, cả hai vợ chồng ông Long đã mất đi hơn 2200 tỷ đồng giá trị cổ phiếu;

4- Cổ phiếu HAG của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai của ông Đoàn Nguyên Đức (bầu Đức) giảm gần 20% kể từ đầu năm đến nay, bào mòn gần 1.500 tỷ đồng túi tiền của đại gia phố núi;

CASE STUDY N0: 381: FED vs VIỆT NAM: Tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam

Thời điểm Mỹ tăng lãi suất sẽ đến trong thời gian tới, các nhà phân tích từ Vinacapital tin rằng:

– Thời điểm tăng lãi suất của Mỹ rất quan trọng. Điều này sẽ làm cho lãi suất các nước khác tăng theo, bao gồm Việt Nam.

– Thị trường chứng khoán Việt Nam và các khu vực khác sẽ phản ứng tiêu cực. Các công ty trong lĩnh vực tài chính (Ngân hàng), hoặc những công ty dựa trên vay nợ tín dụng lớn (nhà ở, tiện ích, xây dựng) sẽ bị tổn thương bởi môi trường lãi suất cao hơn.

– Lãi suất hiện tại của FED là 0.25%, có thể nâng dần lên 2,5% cuối 2016 và 3,5% cuối 2017. Lãi suất này sẽ tăng 0.25%-0.50% trung bình mỗi quý.

– Dự báo, FED sẽ bắt đầu tăng lãi suất vào tháng 12/2015.

CASE STUDY N0.380: 10 quốc gia “ghét” Mỹ nhất thế giới

Danh sách 10 quốc gia có tỷ lệ lớn nhất người dân được Viện Gallup khảo sát nói “không ưa” nước Mỹ, trang 24/7 Wall Street giới thiệu

10. Slovenia

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 54%
GDP bình quân đầu người: 29.658 USD
Tỷ lệ thất nghiệp: 9,8%
Tuổi thọ trung bình: 80,3 tuổi

Quá nửa số người Slovenia tham gia cuộc khảo sát do Viện Gallup của Mỹ thực hiện năm 2014 trong khuôn khổ dự án US-Global Leadership nói họ không ủng hộ sự lãnh đạo của Mỹ. Tuy Slovenia là một thành viên của tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Liên minh châu Âu (EU), Nam Tư cũ (một phần là Slovenia hiện nay) trước đây có quan hệ ngoại giao gần gũi với Liên Xô nên nhiều người dân Slovenia còn chưa quên căng thẳng Đông-Tây thời chiến tranh lạnh.

9. Tajikistan

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 54%
GDP bình quân đầu người: 2.536 USD
Tỷ lệ thất nghiệp: N/A
Tuổi thọ trung bình: 67,4 tuổi

Trong số 135 quốc gia được Gallup khảo sát, Tajikistan đứng thứ 9 về mức độ “ghét” Mỹ. Tỷ lệ không ủng hộ của người dân nước này đối với sự lãnh đạo của Mỹ đã tăng từ 39% vào năm 2013 lên 54% vào năm 2014. Trong khi đó, có tới 93% người Tajikistan được khảo sát ủng hộ sự lãnh đạo của Nga. Nước này là một trong những nước Liên Xô cũ nghèo nhất, với nền kinh tế yếu kém, nạn tham nhũng tràn lan, thiếu điện…

8. Áo

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 55%
GDP bình quân đầu người: 45.789 USD
Tỷ lệ thất nghiệp: 5%
Tuổi thọ trung bình: 80,9 tuổi

Tỷ lệ người dân Áo được khảo sát không ủng hộ Mỹ đã tăng thêm 9 điểm phần trăm so với năm 2013 lên mức 55% trong năm 2014. Giới chức Mỹ từ lâu chỉ trích Áo vì tiếp tục có hoạt động giao dịch với Iran và Triều Tiên. Không ưa Mỹ, Áo cũng là một trong 10 quốc gia ít ủng hộ sự lãnh đạo của Trung Quốc nhất, với 70% người Áo được khảo sát nói họ phản đối sự lãnh đạo của Trung Quốc.

Điểm khác biệt của Áo so với nhiều quốc gia khác trong danh sách này là nước này không phải là một nước Liên Xô cũ, cũng không phải là một quốc gia Hồi giáo.

7. Ai Cập

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 58%
GDP bình quân đầu người: 10.877 USD
Tỷ lệ thất nghiệp: 13,4%
Tuổi thọ trung bình: 71,1 tuổi

Cả Mỹ và Ai Cập đều là thành viên của các tổ chức Liên hiệp quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hai nước cũng là đối tác thương mại của nhau trong nhiều năm, chưa kể Ai Cập là một đồng minh quan trọng của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố.

Tuy vậy, 58% người Ai Cập – quốc gia đông dân nhất thế giới Hồi giáo – được hỏi phản đối sự lãnh đạo của nước Mỹ.  Mối quan hệ của Mỹ với Tổng thống mới đắc cử của Ai Cập là Abdel Fattah Al Sisi hiện vẫn chưa được “xuôi chèo mát mái”.

6. Iran

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 61%
GDP bình quân đầu người: 16.881 USD
Tỷ lệ thất nghiệp: 11,2%
Tuổi thọ trung bình: 74,1 tuổi

Mối quan hệ giữa Mỹ và Iran vốn đã không thân thiện suốt nhiều năm. Năm 1953, Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) giúp lật đổ Thủ tướng Iran khi đó là Mohammed Mossadegh nhằm ngăn nước này ủng hộ Liên Xô. Năm 1979, các nhà cách mạng Iran chiếm Đại sứ quán Mỹ ở Tehran, giữ 66 người Mỹ làm con tin trong 444 ngày.

Gần đây hơn, Mỹ và các nước đồng minh phương Tây áp lệnh trừng phạt khắc nghiệt đối với Iran nhằm ngăn nước này phát triển vũ khí hạt nhân.

5. Pakistan

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 65%
GDP bình quân đầu người: 4.574 USD
Tỷ lệ thất nghiệp: 6,2%
Tuổi thọ trung bình: 66,6 tuổi

Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, Pakistan đã nhận hơn 4 tỷ USD vốn viện trợ dân sự từ Mỹ trong thời gian 2009-2013, bênh cạnh khoảng 13 tỷ USD viện trợ quân sự từ nước này trong 13 năm qua. Tuy vậy, chính sự hiện diện của Mỹ ở Pakistan lại là vấn đề.

Mỹ chú trọng hoạt động ở Pakistan sau vụ khủng bố 11/9 và tiếp tục duy trì hiện diện mạnh ở nước này để chống khủng bố. Trùm khủng bố Osama bin Laden trước kia ẩn náu ở Pakistan, và chiến dịch tìm diệt bin Laden có thể chính là lý do nhiều người Pakistan không ưa Mỹ.

4. Lebanon

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 66%
GDP bình quân đầu người: 16.430 USD
Tỷ lệ thất nghiệp: N/A
Tuổi thọ trung bình: 80,1 tuổi

Vào năm 2013, có tới 71% người Lebanon được khảo sát nói phản đối sự lãnh đạo của Mỹ. Năm 2014, tỷ lệ này giảm nhẹ còn 66%. Là một quốc gia với 54% dân số theo đạo Hồi và 41% theo đạo Công giáo, đa số người dân nước này phản đối sự lãnh đạo của cả Mỹ, châu Âu và Đức trong cuộc khảo sát năm 2014.

Trong tương lai, tỷ lệ ủng hộ Mỹ ở Lebanon có thể giảm do một số nghị sỹ Mỹ đang đặt câu hỏi về việc tiếp tục cấp ngân sách cho các sáng kiến do Mỹ tài trợ ở nước này. Từ tài khóa 2012, Quốc hội Mỹ đã ra điều kiện về viện trợ hàng năm cho Lebanon.

3. Belarus

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 69%
GDP bình quân đầu người: 17.623 USD
Tỷ lệ thất nghiệp: 0,51%
Tuổi thọ trung bình: 72,5 tuổi

Cũng giống như ở một số nước Liên Xô cũ khác, nhiều người dân Belarus vẫn giữ tư tưởng không ưa Mỹ từ thời chiến tranh lạnh. Bên cạnh đó, việc Mỹ ủng hộ Ukraine sau khi Nga sáp nhập Crimea có thể càng làm gia tăng tư tưởng này. Trong khi đó, người Belarus vẫn thân thiện với Nga, với khoảng 46% số người được khảo sát nói ủng hộ sự lãnh đạo của Nga, tăng so với 46% vào năm 2013.

2. Palestine

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 72%
GDP bình quân đầu người: N/A
Tỷ lệ thất nghiệp: N/A
Tuổi thọ trung bình: N/A

Tỷ lệ 72% người Palestine được khảo sát trong năm 2014 nói “ghét” Mỹ đã giảm so với tỷ lệ 80% vào năm 2013. Chính phủ Mỹ đã tuyên bố ủng hộ giải pháp hai nhà nước cho cuộc khủng hoảng Palestine-Israel. Tuy nhiên, người dân Palestin vẫn cho rằng Mỹ hoàn toàn ủng hộ Israel bất chấp Israel tiếp tục chiếm đóng lãnh thổ Palestine.

1. Nga

Tỷ lệ phản đối Mỹ: 82%
GDP bình quân đầu người: 24.298 USD
Tỷ lệ thất nghiệp: 5,5%
Tuổi thọ trung bình: 71,1 tuổi

Không một quốc gia nào khác “ghét” Mỹ mạnh như Nga, với 82% số người Nga được khảo sát nói phản đối vai trò lãnh đạo của Mỹ. Tỷ lệ này cũng là tỷ lệ “ghét” Mỹ cao nhất ở Nga trong lịch sử cuộc thăm dò của Gallup. Ảnh hưởng từ thời chiến tranhh lạnh, cuộc chiến của Mỹ ở Iraq, cuộc xung đột Nga-Georgia, và gần đây nhất là khủng hoảng ở Ukraine được cho là những lý do khiến người dân Nga không ưa Mỹ.

CASE STUDY N0.379: Nợ nước ngoài và làm thế nào để giảm nợ

PS: 1-WB DÙNG “TỔNG THU NHẬP QUỐC DÂN/GNI” CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ “TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN/GDP” NHƯ NHIỀU NGƯỜI HIỂU SAI! 2-KHI NÓI ĐẾN GNI/ĐẦU NGƯỜI THÌ PHẢI LƯU Ý XEM TÍNH THEO PPP HAY THEO TỶ GIÁ VỚI USD? (BÀI NÀY TÍNH THEO TỶ GIÁ USD)

Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá nợ nước ngoài của một nước đó là:

– Căn cứ vào GNI  bình quân đầu người, chia các nước ra thành một số nhóm: Các nước có thu nhập thấp nhất (=761 USD); Các nước có thu nhập trung bình thấp (761 đến 3030 USD); Các nước có thu nhập trung bình cao (3031 đến 9360 USD); Các nước có thu nhập cao (> 9360 USD). Tất nhiên các nước có thu nhập cao thì khả năng trả nợ cao, hoặc không là nước đi vay mà còn là nước cho vay.

– Căn cứ vào khả năng thanh toán để chia ra: Các nước có khả năng thanh toán là bảo đảm việc trả nợ gốc khi đến hạn và trả nợ lãi đều đặn; Các nước không có khả năng thanh toán là các nước không trả được nợ gốc khi đến hạn do đó phải thương lượng lại cơ cấu nợ, tiến độ trả nợ và kèm theo một ân hạn trong thời gian đó. Thậm chí có những nước không có khả năng trả nợ, dẫn đến vỡ nợ, và các nước chủ nợ không có nào khác là phải xoá nợ, như một số nước Châu Phi đã được các nuớc G-8 phải xoá nợ tới trên 30 tỷ USD, vì có đòi nợ, các nước này cũng chẳng có gì để trả nợ.

– Đánh giá theo mức độ nợ:

CASE STUDY N0.378: Vay hay không vay ODA?

 1-Chúng ta nhận lại vốn ODA từ năm 1993, và đến nay, sau 22 năm con số cam kết đã đạt hơn 80 tỉ đô la Mỹ. Đối với nước đang phát triển như Việt Nam với GDP chỉ hơn 160 tỉ đô la Mỹ, thì cam kết này là không nhỏ.

2-Trong 80 tỉ đô la đó, ba phần tư là vốn vay, tức là vay phải trả, là phần quan trọng trong nợ chính phủ. Nợ chính phủ là phần quan trọng của nợ công.

3-Một phần đáng kể của số vốn vay này sẽ đáo hạn trong vài năm tới;

CASE STUDY N0.377: “Đứt” viện trợ, cuộc chiến với HIV/AIDS nguy cơ “vỡ trận”

PS: CŨNG LÀ LÚC VN HẾT HƯỞNG ƯU ĐÃI ODA LÃI SUẤT THẤP + ĐẾN HẠN ĐÁO NỢ GỐC ĐÃ VAY?!

1-Hơn 300.000 người Việt Nam đã mắc HIV/AIDS.

2- Khoảng 80% kinh phí cho phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam là từ các nguồn viện trợ.

3-Dự kiến năm 2017, viện trợ sẽ bị cắt hoàn toàn, ngân sách chống dịch không đảm bảo khiến căn bệnh thế kỷ đe dọa bùng phát trở lại tại Việt Nam.

CASE STUDY N0.376 : FED vs LÃI SUẤT

Fed nâng lãi suất, thị trường thế giới sẽ hoảng loạn

Thứ Tư này, nếu FOMC đánh tín hiệu sẽ nâng lãi suất lần đầu tiên kể từ 2006, giới đầu tư không thể nói rằng họ không lo ngại.

Nhưng bất chấp 2 năm liên tục theo dõi tín hiệu từ Fed, thị trường dường như vẫn chưa chuẩn bị gì nhiều cho sự thay đổi quan trọng về chính sách tiền tệ.

Điều này có thể do những chính sách của 6 năm trước. Việc các ngân hàng trung ương bơm lượng thanh khoản khổng lồ – đầu tiên là chương trình mua trái phiếu trị giá 4 nghìn tỷ USD của Fed, và giờ đây là chương trình kích thích tương tự của Ngân hàng trung ương Nhật Bản và Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) – đã khiến giới đầu tư đổ xô vào tìm kiếm lợi tức từ tài sản mạo hiểm ở mọi thị trường trên toàn cầu. Điều này đẩy các thị trường khác nhau vào mối tương quan gần gũi hơn và làm lu mờ sự khác biệt giữa chúng, khiến việc đồng ý về giá của nhà đầu tư trở nên khó khăn hơn.

Sự biến động thời gian gần đây của nhiều loại tài sản cho thấy khi chính sách bắt đầu thắt chặt, hệ thống tài chính toàn cầu có thể phải đối mặt với dòng thác nguy hiểm khi giới đầu tư liên tục thua lỗ.