TẦM NHÌN "ĐỊA-VĂN-CHÍNH-CÔNG-KINH"
QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG

I FORESEE TO WIN
NOTHING IS PERMANENT EXCEPT CHANGE

CASE STUDY N0.391: GDP vs NỢ: TÍNH & HIỂU SAO CHO CHUẨN

1-Tính và hiểu GDP:

– Ta có một nhà máy sản xuất, một khu vực kinh tế hay một quốc gia. Trong một khoảng thời gian nhất định, như một năm, một quý hay một ngày, mình đưa vào đó một số nhập lượng (hay tài sản như nguyên nhiên vật liệu và công sức con người, v.v… ) thì ở đầu ra sẽ có một số xuất lượng.

– Khi xuất lượng ở đầu ra trị giá cao hơn nhập lượng ở đầu vào thì ta có gia tăng sản xuất hay tái sản. Ngược lại, nếu xuất lượng thấp hơn nhập lượng thì ta không có sản xuất mà chỉ có sản nhập!

Sai số hay sự khác biệt giữa xuất lượng và nhập lượng sẽ cho ta con số tăng trưởng. Tổng số tăng trưởng của quốc gia hay một khu vực kinh tế trong một thời khoảng nào đó được gọi là GDP, là Tổng sản lượng Nội địa hay Tổng sản phẩm Xã hội. Nếu so sánh GDP trong thời gian từ năm này qua năm khác, hay trong không gian từ xứ này qua xứ khác, thì mình có đà tăng trưởng, giả dụ là 7% hay 6,5%, là giá trị tài sản lên xuống đến cỡ nào.

– Vấn đề ở đây nằm ở chữ “giá trị” hay cách tính trị giá của nhập lượng và xuất lượng: Nếu cách tính đó thiếu chính xác – thí dụ như làm sao đo được sự ô nhiễm môi sinh trong chu trình sản xuất để tính thành tiền? – thì con số sản lượng, tăng trưởng hay GDP cũng thiếu chính xác. Tức là không đáng tin.

2-Tăng trưởng GDP và nợ:

– Theo các nguồn thẩm định đáng tin cậy thì kinh tế Trung Quốc đang mắc nợ từ 250% đến 282% của Tổng sản lượng GDP. Nếu ta chấp nhận ước tính phổ thông của các định chế quốc tế thì tính đến cuối năm ngoái, Tổng sản lượng của Trung Quốc ở khoảng hơn chín ngàn tỷ đô la, tức là xứ này có thể mắc nợ từ 22 ngàn 500 tỷ đến 25 ngàn 400 tỷ đô la.

-Chi tiết thứ hai đáng chú ý là gánh nợ của Trung Quốc đã tăng vọt và ngày càng nặng hơn trong mươi năm vừa qua.

-Giới kinh tế có một phép tính dễ nhớ là đếm thử xem kinh tế phải bơm thêm bao nhiêu tiền về tín dụng, hoặc vay thêm bao nhiêu tiền, để tạo thêm 1 đơn vị sản phẩm.

-Trung Quốc phải bơm thêm 4 đồng vào kinh tế thì sản lượng mới tăng thêm được 1 đồng.

-Để tăng trưởng là 7% thì điều ấy có nghĩa là sản lượng kinh tế sẽ tăng thêm được 630 tỷ đô la. Muốn như vậy, họ phải bơm thêm gần 3.000 (ba ngàn) tỷ USD tiền nợ;

– Với  mức vay mượn quá cao như hiện nay, gánh nợ của Trung Quốc có thể sẽ nhân đôi trong bảy tám năm nữa thì mới duy trì được đà tăng trưởng 7%.

KL:

1-Khi nói đến “tăng trưởng kinh tế tính theo GDP “ thì phải hiểu đó là : Sai số hay sự khác biệt giữa xuất lượng và nhập lượng;

2-Với mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào vay nơ/tín dụng thì không thể đạt mục tiêu giảm nợ mà vẫn tăng GDP!

CASE STUDY N0.390: ĐỘI LÁI vs TTCK VN

Cuộc đời có thể trải qua nhiều trạng thái, nhiều lỗi lầm, nhất là làm giá chứng khoán, lôi kéo đầu tư…Dù sao cũng đã trải qua và thật lòng rất ân hận.

CASE STUDY N0.389: Nước nào “yêu và ghét” Trung Quốc nhất thế giới?

Theo khảo sát của được Gallup và Trung Tâm Meridian International Center phối hợp thực hiện:

 
Dẫn đầu danh sách là Đức tại 78%, theo sau sát nút là Nauy tại 77%. Thụy Sỹ và Ý chia nhau vị trí thứ tư và năm. Tỷ lệ phản đối tại Nhật Bản – nước có mâu thuẫn lãnh thổ căng thẳng với Trung Quốc – là 67%, cao hơn một chút so với Canada và Tây Ban Nha.

Đáng lưu ý, mặc dù không góp mặt trong nhóm 10, nhưng có tới 64% người dân Hong Kong (Trung Quốc) cho biết họ “ghét” Trung Quốc đại lục, tỷ lệ này tại Philippines là 64%.

Số nước có hơn 50% người dân ủng hộ Trung Quốc là 22, tất cả đều thuộc châu Phi – khu vực nhận nhiều viện trợ từ Trung Quốc, ngoại trừ Pakistan và Tajikistan. Tỷ lệ ủng hộ cao nhất thuộc về Mali với hơn 86%.

Trong năm 2014, Nga là nước có tỷ lệ dân chúng ủng hộ Trung Quốc tăng mạnh nhất tại 17% lên 42%, có thể xuất phát từ một loạt các thỏa thuận hợp tác giữa hai nhà nước sau sự kiện Nga sáp nhập Crimea, hứng nhiều đòn trừng phạt từ Mỹ và phương Tây. 

CASE STUDY N0.388: Sau 1 năm Hà Nội, Tp.HCM cùng nhảy 45 bậc về mức đắt đỏ

PS: DU LỊCH NƯỚC NGOÀI, FDI, …LÀM SAO TĂNG?

1-Trong tổng số 207 thành phố được xếp hạng, Hà Nội có mức độ đắt đỏ cao hơn 121 thành phố, trong khi giá cả ở Tp.HCM được Mercer đánh giá là đắt hơn ở 117 thành phố.

Trong xếp hạng các thành phố trên thế giới về mức độ đắt đỏ đối với người nước ngoài năm 2015 do công ty tư vấn nguồn nhân lực Mercer thực hiện (Mercer’s 2015 Cost of Living), hai thành phố lớn nhất Việt Nam là Hà Nội và Tp.HCM lần lượt xếp ở vị trí thứ 86 và 90.
Thậm chí, giá cả tại hai thành phố lớn của Việt Nam đối với người nước ngoài được cho là “chát” hơn so với những thành phố lớn của thế giới như Houston và Atlanta của Mỹ, Berlin và Frankfurt của Đức, Barcelona của Tây Ban Nha, Doha của Qatar…

2-Năm ngoái, hai thành phố này đứng ở vị trí tương ứng là 131 và 135. Như vậy, chỉ sau một năm, Hà Nội và Tp.HCM đã nhảy 45 bậc trong xếp hạng về độ đắt đỏ đối với người nước ngoài tới sống và làm việc.

3-Nghiên cứu của Mercer xếp hạng 207 thành phố dựa trên so sánh giá cả của hơn 200 hàng hóa và dịch vụ tại mỗi thành phố, từ nhà ở, giao thông, quần áo, thiết bị gia dụng, giải trí… tính bằng USD.

 Báo cáo này giúp các công ty đa quốc gia và chính phủ xác định được mức lương và phụ cấp phù hợp khi cử nhân viên ra làm việc ở nước ngoài.

CASE STUDY N0.387: TPP vs THAO TÚNG TIỀN TỆ

Khi muốn hoàn tất một hiệp định nhằm giảm các rào cản thương mại trong lúc vẫn bảo vệ được người lao động và các tiêu chuẩn về môi trường, hướng đi thường thấy là đòi hỏi ít (cam kết) hơn từ những đối tác bên kia bàn đàm phán.

 Tuy nhiên vào giai đoạn này, xác suất thành công của TPP sẽ lớn hơn nếu Hoa Kỳ đưa thêm vào yêu cầu buộc các bên tham gia không được thao túng đồng tiền của họ.

Một trong những thiếu sót lớn của hệ thống thương mại toàn cầu trong vài thập kỷ qua là sự thiếu vắng một ràng buộc hiệu quả đối với các quốc gia vốn can thiệp mạnh tay nhằm giữ giá đồng tiền của họ ở mức thấp. Một đồng tiền được định giá quá thấp đồng nghĩa với  khả năng nước đó có được thặng dư thương mại lớn.

CASE STUDY N0.386: THAO TÚNG TIỀN TỆ

Yếu tố cốt lõi của việc thao túng là việc NHNN can thiệp vào thị trường-tiền tệ thông qua bán nội tệ và mua ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái thấp hơn so với khi không can thiệp.

CASE STUDY N0.385: FDI: “Bánh vẽ” tỷ USD và bệnh thành tích theo nhiệm kỳ

 Cho tới nay, năm 2008 vẫn là năm kỷ lục trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam, với hơn 72 tỷ USD. Đó cũng là năm có nhiều dự án tỷ USD được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhất, với 11 dự án. Tính tổng cộng đến nay, có hơn 20 dự án FDI có quy mô tỷ USD, trong đó có tới 13 dự án bất động sản, thép… mà nhiều trong số này đã bị thu hồi, hoặc bỏ hoang, chậm triển khai, khiến dư luận bức bối.