TẦM NHÌN "ĐỊA-VĂN-CHÍNH-CÔNG-KINH"
QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG

I FORESEE TO WIN
NOTHING IS PERMANENT EXCEPT CHANGE

CASE STUDY N0.45 :KHI CUNG VƯỢT CẦU ĐÃ TRỞ THÀNH QUY LUẬT BẤT BIẾN :Thị trường bất động sản trước nguy cơ bội thực nguồn cung

1-Số lượng BĐS tồn đọng của các chủ đầu tư + của các nhà đầu tư thứ cấp (mà thực chất là “đầu cơ” bằng vốn vay !) ,kể cả BĐS tồn kho trong “tổng kho VAMC” + các TCTD + thêm hàng loạt sản phẩm tại các dự án bất động sản trên cả nước sắp được mở bán sẽ khiến thị trường bội thực nguồn cung trong thời gian tới.

2-Trong khi sức mua yếu (Lương thấp và tăng chậm ; FDI; FPI;ODA; Kiều hối; XK, nhất là XK nông hải thủy sản (trừ XK của FDI !) ; Nhập siêu tăng; Du lịch quốc tế,…. giảm; Nợ công ngày càng tăng tác động đến đầu tư công,nợ xây dựng cơ bản tồn động;Bội chi ngân sách lớn;Tỷ giá bị “neo”; etc…)!

CASE STUDY N0.47: NHTM :Có dấu hiệu giấu nợ xấu?

1-Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng thương mại nhà nước thường thấp hơn 3% so với toàn hệ thống.

2- Tồn tại xu hướng giấu nợ:

-Quy mô vốn của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam có tăng nhưng so với trung bình của khu vực (3-4 tỷ USD) thì vẫn còn bé nhỏ. Hiện tại, chỉ có Vietinbank và Vietcombank đạt mức vốn tự có trên 2 tỷ USD, các ngân hàng thương mại cổ phần có vốn tự có trung bình chỉ đạt gần 0,3 tỷ USD/ngân hàng;

– Hơn nữa, với một số ngân hàng thương mại nhỏ, việc tăng vốn quá nhanh trong một thời gian ngắn khiến hoạt động quản trị khó khăn, nợ xấu và sở hữu chéo có thể xảy ra như kinh nghiệm xấu của một số ngân hàng thương mại.

Những ngân hàng thương mại có quy mô lớn nhất và thuộc sở hữu nhà nước lại có mức an toàn vốn nhỏ nhất:

+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng thương mại nhà nước thường thấp hơn 3% so với toàn hệ thống; Trong khi đó ngân hàng thương mại nhà nước lại chiếm đến hơn 40% thị phần huy động và cho vay toàn thị trường.“Điều này có thể là tiềm ẩn không nhỏ đe dọa an toàn của cả hệ thống”;

+ 2% với các ngân hàng thương mại cổ phần; thấp hơn rất nhiều so với các ngân hàng nước ngoài

-Tồn tại xu hướng giấu nợ để tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu tăng lên. Bởi nếu trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro tín dụng thì ngay lập tức tỷ lệ an toàn vốn phải giảm xuống, nhưng thực tế cho thấy mức an toàn vốn của các ngân hàng vẫn tăng đều qua các năm.

-Hoặc đảo nợ bằng cách đưa vào hạng mục “tài sản khác” làm cho Tài sản có rủi ro giảm xuống.

3-Ngân hàng phát triển thiếu bền vững:

Nếu tính đúng, tính đủ các loại rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường… và xác định chính xác vốn tự có thực (loại bỏ vốn ảo do sở hữu chéo) của các ngân hàng thương mại theo yêu cầu của Basel II (Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới – PV) thì hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại thấp hơn nhiều so với các số liệu công bố: “Điều này cho thấy sự phát triển thiếu bền vững của các ngân hàng Việt Nam”;

CASE STUDY N0.44: SỨC MUA vs THU NHẬP vs NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG vs TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Lương của người lao động Việt Nam tăng rất ít, và vẫn ở mức rất thấp, theo PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng  Viện Khoa học lao động và xã hội.

1-Nghiên cứu của viện cho biết, năng suất lao động của Việt Nam ở vào mức thấp nhất của Châu Á-Thái Bình Dương.

Năm 2013, năng suất lao động của Việt Nam tính theo sức mua tương đương của đồng đô la Mỹ tại thời điểm 2005 ($PPP, 2005)  là 5.440 đô la Mỹ, thuộc nhóm bốn nước thấp nhất trong ASEAN (Myanmar, 2.828 đô la Mỹ; Campuchia, 3.900 đô la Mỹ; và Lào, 5.396 đô la Mỹ), thấp hơn của các nước còn lại trong khối ASEAN: chỉ bẳng 55% của Indonesia (9.848 đô la Mỹ); 53% của Philippines (10.026 đô la Mỹ), 40% của Thái Lan (14.754 đô la Mỹ), 20% của Malaysia (35.751 đô la Mỹ), và 1/15 của Singapore (98.072 đô la Mỹ).

2-Cơ cấu lao động của Việt Nam khá tụt hậu trong khối ASEAN với tỷ lệ lao động nông nghiệp cao thứ 4 sau Lào, Indonesia và Myanmar. Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm chậm, năm 2014 vẫn chiếm gần 47% tổng lao động xã hội nhưng giá trị được tạo ra từ ngành này chỉ chiếm 17,16% tổng giá trị GDP của cả nước, cho thấy năng suất lao động trong nội bộ ngành nông nghiệp vẫn còn rất thấp.

3-Tính theo nghề, lao động giản đơn có mức thu nhập thấp nhất (3 triệu đồng/lao động/tháng). Thu nhập bình quân quí 4-2014 của nhóm “lãnh đạo” là cao nhất (6,93 triệu đồng/lao động/tháng, gấp 2,33 lần lao động giản đơn); tiếp đến là nhóm “chuyên môn kỹ thuật bậc cao” (6,38 triệu đồng/lao động/tháng), bằng 2,15 lần nhóm “lao động giản đơn” (3 triệu đồng).

Khảo sát cho biết, trong quí 4 năm 2014, thu nhập bình quân tháng của lao động nhóm ngành “nông-lâm nghiệp và thủy sản” vẫn thấp nhất, chỉ đạt 2,85 triệu/tháng, so với ngành “công nghiệp-xây dựng” có mức 4,24 triệu đồng/tháng và nhóm ngành “dịch vụ” có mức 4,9 triệu đồng/tháng.

CASE STUDY N0.42:TOO BIG TO FALL :DNNN ĐẦU TƯ ĐA NGÀNH

Không chỉ là OceanBank, không chỉ là đơn thuần 800 tỷ đồng đứng trước nguy cơ “mất trắng”, có tới ngót 6.000 tỷ đồng khác đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam – PetroVietnam (PVN) “rót” vào các tổ chức tài chính, đủ các lĩnh vực: từ ngân hàng, bảo hiểm đến đầu tư…

CASE STUDY N0.40: HỘI CHỨNG “TOO BIG TO FALL”: McDonald’s: Bán 3.500 cửa hàng

 Như tin đã đưa, vào ngày hôm qua, CEO mới của McDonald’s là Steve Easterbrook đã chính thức công bố kế hoạch “giải cứu” McDonald’s khỏi tình trạng khó khăn chồng chất như hiện nay.

Theo đó, Steve cho biết ông sẽ đẩy nhanh tốc độ bán các cửa hàng nhượng quyền, tái cấu trúc hệ thống hoạt động trên toàn cầu và cắt giảm chi phí hàng năm, nhắm đến tạo ra một doanh nghiệp bớt cồng kềnh hơn. Theo Steve, chỉ bằng cách hiện đại hóa cấu trúc hoạt động thì công ty của ông mới giải quyết được những thử thách toàn cầu hiện tại.

“Trong vòng 5 năm qua, thế giới đã dịch chuyển nhanh hơn rất nhiều. Chính vì vậy, tôi sẽ không né tránh bất kỳ nhu cầu cấp thiết nào để tái thiết công ty”.

Hiện tại, gã khổng lồ đồ ăn nhanh lên kế hoạch bán được 3.500 cửa hàng nhượng quyền trên khắp thế giới tính đến năm 2018, nhiều hơn so với con số 1.500 cửa hàng đến năm 2016 theo kế hoạch trước đó. Mục tiêu cuối cùng là giúp McDonald’s có 90% cửa hàng được nhượng quyền, tăng 81% so với thời điểm hiện tại. Nếu đạt được mục tiêu này, doanh thu của toàn công ty sẽ được cải thiện.

Kế hoạch tái cấu trúc sẽ kéo theo việc sa thải nhân viên trên toàn cầu. Tuy vậy CEO Steve không đưa ra thông tin chi tiết về việc này.

CASE STUDY N0.39: OCEANBANK : KHI NHNN MUA NHTMCP VỚI GIÁ O ĐỒNG

Với tỷ lệ sở hữu 20% tại OCeanbank, OGC mất 971 tỷ đồng – đây là giá trị khoản đầu tư theo phương pháp vốn chủ sở hữu trên BCTC hợp nhất tại ngày 31/12/2014. 971 tỷ đồng này sẽ về 0 đồng sau khi NHNN mua lại Oceanbank.

Trước quyết định mua lại Oceanbank với giá 0 đồng của Ngân hàng nhà nước, CTCP Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BSC) đã đánh giá rằng, Tập đoàn Đại Dương (mã: OGC) có khả năng sẽ mất 2.944 tỷ đồng và mất khả năng thanh toán.

Trước hết, với tỷ lệ sở hữu 20% tại OCeanbank, OGC mất 971 tỷ đồng  – đây là giá trị khoản đầu tư theo phương pháp vốn chủ sở hữu trên BCTC hợp nhất tại ngày 31/12/2014. 971 tỷ đồng này sẽ về 0 đồng sau khi NHNN mua lại Oceanbank.

OGC cũng sẽ đối mặt với nguy cơ không thu hồi được 1.143 tỷ đồng khoản phải thu ngắn hạn và dài hạn đối với Công ty TNHH VNT. Đây là một công ty thuộc sở hữu của gia đình ông Hà Văn Thắm, có vốn chủ sở hữu là 737 tỷ đồng (số liệu tại ngày 31/12/2013). Trong khi đó, VNT cũng sở hữu 20% vốn điều lệ của Oceanbank (bằng OGC) tương đương 971 tỷ đồng. Khi NHNN mua lại OCeanbank với giá 0 đồng, tương tự như OGC thì VNT đối mặt với việc mất đi khoản đầu tư này và bị âm vốn chủ sở hữu.

Bên cạnh đó, OGC đang gặp rủi ro đối với khoản phải thu trị giá 830 tỷ đồng tại CTCP Đầu tư và Xây dựng Sông Đà. Cổ đông này hiện đang nắm giữ 6,65% vốn cổ phần của Oceanbank.

Đối với nguy cơ mất khả năng thanh toán, BSC nhận định là do OGC có thể mất 2.944 tỷ đồng nói trên, đồng thời, OGC phải hoàn trả ngay khoản nợ với Oceanbank với tổng giá trị hoàn trả tối đa là 752 tỷ đồng.

Theo BCTC năm 2014, OGC đang nợ Oceanbank 752 tỷ đồng (với khoảng 413 tỷ đồng có tài sản đảm bảo). Trong đó, OGC vay Oceanbank là 658 tỷ đồng và có khoản phải trả 94 tỷ đồng.  752 tỷ này, nếu áp dụng thông tư 36 và rà soát lại khoản vay có thể bị yêu cầu trả ngay 1 phần cho ngân hàng.

Trong khi đó, tổng số dư tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của OGC là 2.286 tỷ đồng (bao gồm 1.967 tỷ đồng đầu tư ngắn hạn vào cổ phiếu và các khoản đầu tư vào bên liên quan, có thanh khoản không cao). Tổng các khoản tiền gửi và phải thu tại OCeanbank của OGC là 43 tỷ đồng.

Ngoài ra, OGC còn có nhiều khoản sở hữu lòng vòng với các bên liên quan khác, rủi ro cao mà BSC chưa có đủ thông tin để đánh giá.