TẦM NHÌN "ĐỊA-VĂN-CHÍNH-CÔNG-KINH"
QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG

I FORESEE TO WIN
NOTHING IS PERMANENT EXCEPT CHANGE

CASE STUDY N0: 240: DNNN vs THOÁI VỐN: Doanh nghiệp Nhà nước vẫn đầu tư thêm vào 5 lĩnh vực nhạy cảm

1-Số vốn doanh nghiệp nhà nước phải thoái trong 9 tháng cuối năm 2015 là 19.517 tỷ đồng;

2-Theo báo cáo, tính đến hết quý 1/2015 cả nước đã thực hiện sắp xếp được 6.980 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 4.237 doanh nghiệp.
Riêng quý 1/2015, cả nước cổ phần hóa 29 doanh nghiệp. Còn lại 260 doanh nghiệp thì có 62 doanh nghiệp đã công bố giá trị doanh nghiệp, 198 doanh nghiệp đang xác định giá trị doanh nghiệp.

CASE STUDY N0: 239: Nhật Bản vẫn là chủ nợ số một thế giới

PS: CÓ 2 CÂU HỎI: 1-TẠI SAO NHẬT & TQ LẠI “THÍCH” CHO MỸ VAY TIỀN: PHẢI CHĂNG VÌ KHÔNG BIẾT ĐẦU TƯ VÀO ĐÂU CHO AN TOÀN + SINH LỜI ? 2-TẠI SAO MỸ LẠI “THÍCH” LÀM…. CON NỢ HƠN LÀ CHỦ NỢ CỦA NHẬT & TQ: VÌ MỸ KHÔNG CÓ MONEY OR ĐẦU TƯ VÀO NHẬT VÀ NHẤT LÀ VÀO CHINA THÌ ….KHÔNG AN TOÀN AND/OR SINH LỜI KÉM HƠN LÀ ĐẦU TƯ Ở MỸ AND/OR NƠI KHÁC??

1- Đây là năm thứ 24 liên tiếp Nhật là chủ nợ lớn nhất thế giới, với tài sản ròng cao hơn Trung Quốc tới 71%, dù Trung Quốc đã vượt Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới từ năm 2010.

2-Tài sản ròng ở nước ngoài của Nhật tăng 13% trong năm ngoái lên mức 367.000 tỷ Yên (3.000 tỷ USD), trong đó thay đổi về tỷ giá giúp tài sản của quốc gia này ở nước ngoài tăng tới 19%, theo dữ liệu do Bộ Tài chính Nhật công bố.

“Đây là kết quả của việc đầu tư ra nước ngoài tăng lên kết hợp với hiệu ứng của tỷ giá hối đoái”, nhà phân tích Izumi Devalier của ngân hàng HSBC nói.

Tính từ đầu năm 2013 đến nay, đồng Yên đã trượt giá 29% so với đồng USD, theo Bloomberg.

3- Mỹ hiện là nước G7 có nhiều nợ nhất, một phần do các quốc gia khác đều muốn đầu tư vào trái phiếu Mỹ, trong đó Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước mua nhiều trái phiếu Mỹ nhất.

CASE STUDY N0: 238: DỰ TRỮ NGOẠI TỆ: HSBC: Không có dư địa để cho Chính phủ vay dự trữ ngoại tệ

1-HSBC nhận định NHNN phải dùng nguồn dự trữ ngoại tệ để bảo vệ tỷ giá và tài trợ vốn cho các dự án Chính phủ sẽ khiến VND rơi vào thế bấp bênh, vì dự trữ ngoại tệ hiện nay chỉ ở khoảng 2,5 tháng nhập khẩu, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu cần thiết là 3 tháng.

 2-Trong kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XIII, diễn ra từ ngày 20/5 đến ngày 26/6, Quốc hội dự kiến sẽ thông qua 11 dự án luật và một nghị quyết, trong đó có sửa đổi Luật Ngân sách Nhà nước. Nếu Nghị quyết 78 được sửa đổi cho phép Bộ Tài chính phát hành trái phiếu có kỳ hạn ngắn hơn 5 năm sẽ làm giảm áp lực cho tình hình hiện tại. Ngay cả khi nghị quyết này không được sửa đổi, HSBC cho rằng đề xuất sử dụng khoản dự trữ ngoại tệ cũng khó được thông qua.

CASE STUDY N0: 237: Dự trữ ngoại tệ là gì ?

1-Khái niệm:

Dự trữ ngoại hối nhà nước, thường gọi tắt là dự trữ ngoại hối hoặc dự trữ ngoại tệ là lượng ngoại tệngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc gia hay lãnh thổ nắm giữ. Đây là một loại tài sản của Nhà nước được cất giữ dưới dạng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh như: Dollar Mỹ, Euro, Yên Nhật, v.v…) nhằm mục đích thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ giá trị đồng tiền quốc gia.

2-Hình thức dự trữ:

Ngoại hối có thể được dự trữ dưới hình thức:

3-Tiêu chí đánh giá quy mô dự trữ:

Có ba tiêu chí chính:

3.1-Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và giá trị một tuần nhập khẩu trong năm tiếp theo:

Nói cách khác, quy mô dự trữ ngoại hối được tính bằng số tuần nhập khẩu. Tiêu chí này cho thấy mức độ hỗ trợ thanh toán quốc tế của dự trữ ngoại hối. Theo đánh giá của IMF, dự trữ ngoại hối có quy mô tương đương 12 đến 14 tuần nhập khẩu thì quốc gia sẽ được coi là đủ dự trữ ngoại hối.

3.2-Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và nợ ngắn hạn nước ngoài:

Tiêu chí này cho thấy khả năng đối phó của quốc gia khi có hiện tượng tấn công ngoại tệ hoặc rút tiền ra nước ngoài.

3.3-Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và mức cung tiền rộng:

Tiêu chí này cho thấy khả năng can thiệp tỷ giá hối đoái của ngân hàng trung ương. Tỷ lệ từ 10% đến 20% được coi là đủ dự trữ ngoại hối.

CASE STUDY N0: 236: Về việc dùng “dự trữ ngoại tệ” của NHNN

Đọc tin chính phủ đề xuất Ngân hàng nhà nước (NHNN) cho vay dự trữ ngoại tệ làm ngân sách mà giật mình, dù chỉ là đề xuất nghiên cứu.

Việc chính phủ yêu cầu ngân hàng nhà nước lấy dự trữ ngoại tệ cho chính phủ vay không khác gì chính phủ bảo NHNN in tiền mua ngoại tệ vào, rồi đưa ngoại tệ đó cho chính phủ sử dụng và qua đó nhận được một đống giấy nợ của chính phủ (dưới hình thức trái phiếu).

Khi đã đưa dự trữ ngoại tệ cho chính phủ thì chúng không còn là dự trữ ngoại tệ nữa vì dự trữ ngoại tệ được định nghĩa là tài sản ngoại tệ nằm trong tay NHNN mà NHNN, vào bất cứ lúc nào, cũng có thể biến thành tiền mặt và sử dụng để điều phối cung cầu ngoại hối và giá ngoại hối trên thị trường nhằm phục vụ nhu cầu xuất nhập khẩu và trả nợ.

Yêu cầu trên của chính quyền có thể vừa làm mất quyền quyết định về chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước, vừa có nguy cơ làm nền kinh tế mất ổn định .

CASE STUDY N0: 235: Ẩn số trong báo cáo nợ xấu của Thống đốc

PS: TRONG SUỐT HƠN 20 NĂM HÀNH NGHỀ CỐ VẤN CHO CÁC DOANH NGHIỆP, NHẤT LÀ CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THÌ 2 CÂU HỎI MÀ TÔI SỢ NHẤT: DEAR MR.LONGHAIR, 1-”WHERE TO GET RELIABLE INFORMATION” ? AND 2-“IN WHOM TO TRUST ?” VÀ DO BÍ QUÁ (!?) NÊN TÔI THƯỜNG TRẢ LỜI : 1-GOD ONLY KNOWS (GOK); AND 2-“IN GOD I TRUST”!

Lần báo cáo này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chỉ đề cập đến con số nợ xấu ở “kênh thứ nhất”: Tức chỉ là con số tổng hợp từ báo cáo của các tổ chức tín dụng!


1-Báo cáo cho biết, sau 3 năm thực hiện (2012-2014), tổng các khoản nợ xấu đã được xử lý ước đạt 311,1 nghìn tỷ đồng, tương đương 67% tổng số nợ xấu ước tính tại thời điểm tháng 9/2012.
Sau khi giảm về 3,25% cuối tháng 12/2014, nợ xấu đã tăng trở lại hai tháng đầu năm 2015 với 3,59%.
2-Có một số điểm đáng chú ý trong những con số báo cáo trên:
-Một là, với 147.263 tỷ đồng nợ xấu đã bán lại cho Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), coi như đã được xử lý, thì khoảng 164.000 tỷ đồng nợ xấu tính theo quy mô nói trên đã được các tổ chức tín dụng tự xử lý (chủ yếu qua sử dụng nguồn trích lập dự phòng rủi ro) trong ba năm qua.
-Hai là, tỷ lệ nợ xấu 3,59% mà Ngân hàng Nhà nước báo cáo có thể hiểu là con số tổng hợp từ báo cáo của các tổ chức tín dụng. Theo đó, con số ở “kênh thứ hai”, qua giám sát từ xa của Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ lớn hơn nhiều.
-Tại nhiều thời điểm những năm gần đây, Ngân hàng Nhà nước vẫn công bố hai con số nợ xấu: một từ tổng hợp báo cáo của các tổ chức tín dụng, một là từ kênh giám sát từ xa. Tuy nhiên, quy mô nợ xấu theo giám sát từ xa hiện vẫn là ẩn số.
-Trước đây, tỷ lệ nợ xấu qua kênh giám sát có lần công bố có bao gồm cả các khoản nợ được cơ cấu lại mà không phải chuyển nhóm theo Quyết định 780 và sau là Thông tư 09. Quy mô cơ cấu lại khoảng một năm trước từng được đề cập đến tới trên dưới 300.000 tỷ đồng.
-Từ 1/4/2015, cơ chế cho phép cơ cấu lại nợ mà không phải chuyển nhóm nói trên đã kết thúc. Nhưng như trong báo cáo trên, cũng như đến thời điểm này, việc cập nhật và đánh giá rõ mức độ nợ xấu ẩn trong quy mô nợ được cơ cấu lại theo chính sách trên chưa từng được công bố.
Theo đó, con số nợ xấu 3,59% đến cuối tháng 2/2015 và mục tiêu giảm về 3% từ nay đến cuối năm cũng chỉ là tương đối, chưa hẳn đã phản ánh đầy đủ và toàn diện về mức độ nợ xấu, chưa kể phần đã bán sang VAMC mà thực tế vẫn chưa thể thu hồi hoặc xử lý.