TẦM NHÌN "ĐỊA-VĂN-CHÍNH-CÔNG-KINH"
QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG

I FORESEE TO WIN
NOTHING IS PERMANENT EXCEPT CHANGE

CASE STUDY N0. 741: Ế như… trái phiếu

1- Chỉ số trái phiếu (Bond Index) từ đầu năm đến nay tăng 2,63% trong khi tỷ giá tăng xấp xỉ 5%, theo thống kê của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (Hnx). Đầu tư trái phiếu coi như lỗ!

2-Bộ Tài chính cho biết đến hết tháng 9-2015 :

+ Mới chỉ phát hành được 127.473 tỉ đồng trái phiếu chính phủ, bằng 51% kế hoạch năm.

+ Chỉ tiêu phát hành cho quí 4 còn gần một nửa, làm cách nào bán được?

3-Trái phiếu là thứ hàng hóa để đầu tư, người ta chỉ mua nó khi biết chắc sẽ có lời.

+ Mấy năm trước ngân hàng khó khăn về tín dụng, phải thu hồi nợ, thừa tiền, lãi suất huy động giảm, họ vác đi mua trái phiếu.

+Bộ Tài chính cứ phát hành băng băng, bao nhiêu cũng bán hết.

+ Tới tháng 3 năm nay, lãi suất xuống đến đáy, rồi nằm đấy, nhúc nhích chực chạy lên.

+ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) muốn giảm tiếp lãi suất, nhưng thị trường “cãi” lại và không thể hiện điều đó.

4- Sang quí 2 rồi quí 3, túi tiền của ngân hàng thương mại giờ đã khác:

+ Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng vốn huy động.

+ Tổng phương tiện thanh toán cũng tăng chậm.

+ Gần đây NHNN lại bán mạnh ngoại tệ can thiệp thị trường ngoại hối, tới hơn 7 tỉ đô la Mỹ, hút về ít nhất 150.000 tỉ đồng.

+ Bộ Tài chính ở vào thế tiến thoái lưỡng nan, bắt buộc phải tăng lãi suất trái phiếu.

+ Chỉ trong vòng vài tuần, lãi suất trái phiếu kỳ hạn năm năm tăng 100 điểm, kỳ hạn 10-15 năm tăng 50 điểm. KL:

(I) Tuy nhiên, người mua vẫn gần như không đoái hoài tới.

 Bộ Tài chính không thể đi xa hơn nữa bởi đẩy lãi suất lên không chỉ phá vỡ mặt bằng lãi suất chung, mà còn khiến cho việc trả lãi sau này trở nên đắt đỏ.
 
(II) Bộ Tài chính không thể đi xa hơn nữa bởi đẩy lãi suất lên không chỉ phá vỡ mặt bằng lãi suất chung, mà còn khiến cho việc trả lãi sau này trở nên đắt đỏ.
 

CASE STUDY N0. 740: SỰ THẬT VS CÁCH TÍNH :Quan trọng là hiệu quả sử dụng + khả năng trả nợ

1-Báo cáo nghiên cứu về nợ công mới được Học viện Phát triển, thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, công bố gần đây đã đưa ra một tỷ lệ nợ công khá cao so với con số trước đó mà Bộ Tài chính báo cáo Quốc hội hồi tháng 5 vừa qua.

Theo đó, tỷ lệ nợ công so với GDP được Học viện Phát triển tính toán là 66,4%, cao hơn so với tỷ lệ 59,9% do Bộ Tài chính báo cáo.

2-Thực tế thì tỷ lệ nợ công hiện tại, dù có tính theo cách của Bộ Tài chính hay cách của Học viện Phát triển, có thể sẽ không phải là điều gì đáng lo ngại, nếu như xu hướng nợ không tăng nhanh và VN có khả năng trả nợ tốt.

+ Ngay cả nghiên cứu của Học viện Phát triển cho rằng tỷ lệ nợ của VN hiện nay vẫn ở mức an toàn và rủi ro vỡ nợ là thấp.

+ Tuy vậy, mức độ an toàn của nợ công được cho là không bền vững, xét về khả năng trả nợ từ nguồn thu ngân sách Nhà nước còn hạn chế và nợ công còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

3-Theo báo cáo mới nhất do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố, tính đến cuối năm 2014:

+Tổng dư nợ công của Việt Nam là khoảng 110 tỷ USD.

+ Với số nợ này, tính theo mức dân số cuối năm 2014 là 90,7 triệu người thì bình quân mỗi người dân Việt Nam “gánh” gần 1.212,8 USD nợ công

+ Nhưng điều đáng quan ngại nhất, theo WB, là nợ công của Việt Nam đang tăng nhanh.

+ Tỷ trọng nợ công so với GDP tăng nhanh từ 50% năm 2011 lên 59,6% năm 2014.

4-Lý do nợ công tăng nhanh ở đây là do thay đổi cơ cấu nợ.

+ Cơ cấu nợ đã thay đổi khi Chính phủ phải tăng vay nợ trong nước qua phát hành trái để bù cho ngân sách, dẫn đến việc nợ trong nước đang tăng nhanh hơn so với nợ vay ưu đãi nước ngoài.

+Theo báo cáo của WB, nợ nước ngoài của Chính phủ vẫn giữ ổn định khoảng 27-28% GDP trong giai đoạn 2010-2014, nợ trong nước tăng nhanh từ 23,1% GDP năm 2010 lên 31,7% GDP năm 2014.

+ Chuyên gia kinh tế Sebastian Eckardt của WB cho rằng do nợ trong nước có thời hạn ngắn hơn so với vay nước ngoài, nên áp lực trả nợ cũng sẽ tăng theo.

+Nghĩa vụ trả nợ đã tăng từ 22% năm 2010 lên gần 26% tổng thu ngân sách năm 2014.

+ Chi trả lãi vay hiện chiếm gần 7,2% chi ngân sách, lấn át các khoản chi tiêu khác.

CASE STUDY NO.735: TPP:ĐƯỢC VS MẤT

Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra 6 tác động lớn nhất của TPP vào nền kinh tế Việt Nam.

1-Thứ nhất, nhập khẩu gia tăng, trong khi xuất khẩu có xu hướng giảm.

2-Thứ hai, khi TPP được thực thi, các dòng thuế quan sẽ giảm dần về 0% khiến doanh thu về thuế giảm.

3-Thứ ba, việc tham gia TPP không chỉ đòi hỏi các nước tham gia cắt giảm các hàng rào thuế quan mà còn đòi hỏi cắt giảm hàng rào phi thuế quan như chi phí vận chuyển, thủ tục chờ đợi nhập khẩu…

4-Thứ tư, Việt Nam sẽ không còn khả năng duy trì lợi thế về lao động giá rẻ, trong khi nhu cầu về lao động có kỹ năng tăng lên. Sự dịch chuyển tự do của lao động không chỉ trong nước, mà cả giữa các nước.

5-Thứ năm, các nước sẽ có xu hướng áp dụng các hàng rào kỹ thuật thay thế, để bảo vệ các ngành sản xuất nội địa của mình. Trong bối cảnh chất lượng các sản phẩm của Việt Nam chưa cao, điều này sẽ hạn chế xuất khẩu.

6-Thứ sáu, với những ưu đãi khi gia nhập TPP, các nước trong khối sẽ tăng cường đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.